Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

Cho gì (Kiṃdadasuttaṃ)/ Diem Tuyet ghi chep

Cho gì (Kiṃdadasuttaṃ).
Diem Tuyet ghi lai
Nguon: facebook
Có người (khuyết danh) đến hỏi Đức Phật: Ai trong đời này cũng cần có sức mạnh, có nhan sắc, có thoải mái hạnh phúc, nhưng khổ cái muốn có những cái đó phải làm sao, bố thí cái gì để mai mốt mình có những thứ ấy, cho cái gì để được nhiều?
“Cho gì là cho lực? Cho gì là cho sắc?
Cho gì là cho lạc? Cho gì là cho mắt?
Cho gì cho tất cả? Xin đáp điều con hỏi?”
Xin nhắc lại chỗ này, bà con làm ơn nhớ giùm vì nó vô cùng quan trọng. Cái gì mình thấy nó thường mình cho nó bình thường, cái gì mình thấy nó bình thường mình diễn nó ra thành tầm thường, mà đã tầm thường rồi thì mắc gì mình phải nhớ. Tôi xin nói rõ, cái gì mình nghe thường thấy thường nó là bình thường, nhưng bình thường chưa chắc là tầm thường. Xin hỏi bà con có phân biệt được bình thường và tầm thường hay không. Bình thường là normal, tầm thường là cheap. Cái gọi là bình thường chưa chắc nó tầm thường đâu, ví dụ chữ hiếu, mình nghe hoài, từ 15 tuổi trở lên đã nghe, chữ Hiếu sâu vô cùng, không phải nó là quần là áo lượt, sinh nhật, trầm hương chúc thọ… mới là hiếu. Kéo giùm cái mền cho mẹ, thay giùm bình trà nóng cho cha, đó là hiếu. Một ngày thấy cha ngó mông ra đường, hai giờ sáng thấy mẹ còn trăn trở bên giường, phải hỏi, đó là hiếu. Chuyện vậy mà ít người để ý.
Ở đây tôi muốn nói câu tôi cho là quan trọng là thế này, có những câu hỏi được Đức Phật trả lời theo nhiều cách, đối với A ngài trả lời khác, đối với B ngài trả lời khác không phải mâu thuẫn bởi ngài nhìn vào căn tánh của người đó. Có bài kinh khác Đức Phật trả lời không giống bài kinh này. Có nhiều người lẽ ra ngài nói sâu hơn rộng hơn nhưng không, tới đó ngài dừng, vì sức của người hỏi đến đó là đủ. Đức Phật luôn luôn chính xác, luôn cần và đủ, không dư không thiếu, dư có thể bớt, thiếu có thể thêm nhưng Đức Phật Chánh đẳng giác thì không có chuyện đó, một khi đã nói thì không có gì để bớt không có gì để thêm, chính xác như một giọt nước.
Trong trường hợp này ngài giải thích thế này: Cho thức ăn chính là cho sức khỏe, (dĩ nhiên trong trường hợp này thôi, chớ trong trường hợp khác có khi ngài nói cho thuốc men là là cho sức khỏe, hoặc giúp đỡ tay chân cho người khác..vv siêng phục vụ giúp đỡ người khác thì đời sau kiếp khác sinh ra mạnh khỏe không bệnh tật. Không giết chóc hành hạ ai thì đời sau mình sanh ra khỏe mạnh. Hoặc dùng sức để làm chuyện gì đó mang ý nghĩa hỗ trợ cho chánh pháp, ví dụ ngày mai có lễ dâng y hôm nay mình dùng sức khiêng cây, che rạp cho buổi lễ ngày mai vv..). Cho y phục là cho nhan sắc, chúng ta biết rằng cho y phục đây chỉ là một trong nhiều thứ cho, ví dụ mình dâng hoa cúng Phật, dọn đường quét sân, sống trong từ tâm thì đời sau kiếp khác sinh ra mình cũng là người đẹp, có nhan sắc. Trong kinh nói Đức Phật có cặp mắt rất đẹp đến nỗi kẻ thù nhìn ngài cũng chùng lòng. Giọng nói của ngài dù người ghét nghe cũng chùng lòng, là vì trong nhiều đời Thế Tôn tu hạnh từ tâm, không nhìn người khác bằng sân tâm, không liếc ngang ngó dọc, háy nguýt người khác. Muốn có giọng nói thanh tao thì không nói lời ác độc, không nói lời sân tâm, luôn luôn dùng ngôn ngữ của mình để đem lại sự hòa giải đoàn kết với người khác. Tôi nghĩ kiếp trước chắc tôi chửi lộn hay sao đó, giờ cái giọng của tôi nó vậy, tôi rất sợ nghe lại tôi giảng, tôi sợ đến mức sáng sáng tôi vô room nghe người ta mở băng tôi khó chịu, tôi chói tai, đang bận tôi phải giơ tay lên cho quí vị tắt. Cho nên chuyện Đức Phật trả lời ở đây chỉ trong trường hợp này thôi, cho y phục là cho nhan sắc. Nếu không có ăn thì không sống được nên cho thức ăn là cho sức khỏe. Trong chú giải nói cho y phục cũng vậy. VN có câu “người đẹp vì lụa”. Các y phục trong phim Hàn được xem là rất chuẩn để VN bắt chước, dầu là vai nhà nghèo vẫn ăn mặc vừa vặn, ly tách đàng hoàng. Trong phim Hongkong, TQ hễ nghèo là ăn mặc gì cũng được, còn Đại Hàn khi đã lên phim rồi thì ăn mặc rất chuẩn, một cô bồi bàn, áo quần dù rách dù dơ cũng vừa vặn rất chuẩn, áo quần ok thì con người ngó cũng được, vì vậy mới nói người đẹp nhờ lụa. Cũng từ câu này mà người ta sống nặng hình thức. Cho xe cộ, phương tiện đi lại thì cho sự an lạc, để được an lạc thì có một tỷ cách, nhưng trong trường hợp bài kinh này thôi, Đức Phật nói để cho người ấy có thể thực hiện được.
‘‘Na hatthiyānaṃ samaṇassa kappati,
Na assayānaṃ, na rathena yātuṃ;
‘‘Na hatthiyānaṃ samaṇassa kappati”, cho người đời xe cộ thì được, nhưng đối với Samôn, “hatthiyānaṃ” (cho voi) assayānaṃ (cho ngựa) na rathena yātuṃ thì không có được, mà chỉ cho giày dép; không được cho xe cho voi cho ngựa. Đối với mấy ông sư thời nay mà chỉ cho giày dép không cho xe thì mấy ổng buồn lắm. Đối với ngày xưa, chứ ngày nay chứ quí vị cho tôi chiếc Lexus hay Mercedes hay Rolls Royce thì tôi không từ chối, lấy liền. Giúp người ta phương tiện đi lại là cho sự an vui. Muốn có sự an lạc thì có nhiều cách khác nhau, nhưng trong trường hợp này Thế Tôn chỉ nói phương tiện đi lại.
Yàna: xe, phương tiện đi lại. Tiếng Hán có chữ “thừa”. Bà-la-môn giáo kêu PG Nguyên Thủy là Tiểu thừa. VN hoặc Tàu cũng xài, Hìnayàna: tiểu thừa, xe bốn bánh, xe con, xế hộp. Đại thừa là Mahàyàna: xe tải, xe 18 bánh. Theo như trong luật thì tỳ kheo vô bệnh không mang giày dép, nhưng ngày nay rất khó. Các sư ở các xứ châu Á (Thái Miên, Tích Miến, Việt Lào) tay phải để trần trụi bên ngoài, nhưng ở Âu Mỹ thì kỳ, trong cái nhìn của người khác là hơi khiếm nhã, nên không mặc như vậy. Người đầu tiên tiếp nhận nền văn hóa Âu Mỹ tới nơi tới chốn và phát minh ra cái áo tay dài là Walpola Rahula, vị này có bằng tiến sĩ đại học Sorbonne, Pháp, tác giả cuốn What The Buddha Taught, rất là nổi tiếng, ngang với cuốn Đức Phật và Phật Pháp của ngài Narada và vị Walpola Rahula có nhiều công trình lớn, đặc biệt là trong bộ Encyclopedia Britannica người ta có mời ngài viết một chữ “Đạo Phật”. Quí vị nghe quí vị coi thường có gì đâu ghê gớm, nhưng tại sao người ta phải đi tìm người chuyên trách một chữ Đạo Phật. VN có giáo sư Bửu Kế làm bộ Tầm Nguyên Tự Điển, ông ta định nghĩa “Tam muội” là ba thứ làm ta mê muội, tức tham sân si. Ngài Walpola Rahula đã dịch lần đầu tiên quyển Abhidharmasamuccaya (A-tỳ-đàm tập luận) từ tiếng Sanskrit qua tiếng Pháp, bộ này giờ đã dịch ra tiếng Anh, là một trong những tài liệu tham cứu về A-tỳ-đàm của Hữu Bộ rất xuất sắc, tương đương bộ A-tỳ-đàm Câu Xá hay là Tỳ Bà Sa, Phát Trí Luận.
Tôi mong rằng thông qua lớp học này tôi gởi đến bà con một số thông tin, kiến thức bách khoa mà bà con bắt buộc phải biết nếu muốn nghiên cứu Phật pháp tới nơi. Ngoài những bộ tôi giới thiệu có 3 bộ quan trọng là bộ Câu Xá, Tỳ Bà Sa, Phát Trí Luận, ai dưới 40 tuổi thì nếu dịch được thì dịch, còn không thì đọc.
‘‘So ca sabbadado hoti, yo dadāti upassayaṃ;
Upassayaṃ: chỗ ở, chỗ náu thân. Cho chỗ ở là cho tất cả. Tại sao người ta đổ dồn về những thành phố lớn để ở, Trung Quốc rất rộng tại sao Bắc Kinh Thượng Hải mật độ dân số ở mức kỷ lục? Vì đi học thì được học trường lớn, đi làm thì lương cao, có nhiều điều kiện để theo đuổi giấc mộng đời (ca sĩ, diễn viên). Sài Gòn cũng vậy, miền Tây, miền Bắc cũng đổ lên. Nhiều khi chỉ cần một chỗ ở như ý, người ta có điều kiện để làm được nhiều việc. Bao nhiêu năm lưu lạc xứ người, cho đến hiện tại tôi vẫn chưa có một chỗ để gọi là an cư, lạc nghiệp. Hơn ai hết ngay lúc này tôi thấm thía câu nói, cho chỗ ở là cho tất cả.
Amataṃ dado ca so hoti, yo dhammamanusāsatī’’ti.
Câu cuối cùng mới quan trọng, những câu đầu như mấy câu dạo thôi giống như là “gió đưa bụi chuối sau hè” câu thứ hai mới ghê “anh mê vợ bé bỏ bề con thơ”. Những câu dạo đầu: bố thí thực phẩm là bố thí sức mạnh, bố thí y phục là bố thí nhan sắc, bố thí phương tiện đi lại là bố thí niềm hạnh phúc, bố thí chỗ ở là bố thí tất cả, cái cuối cùng là dhammamanusāsatī có nghĩa là bố thí pháp. Giảng pháp cho người khác là ban bố sự trường sanh bất tử cho họ, không nghe được chánh pháp thì người ta mù mờ. Anusāsatī là giảng dạy, hướng dẫn. Dhammamanusāsati: giảng dạy chánh pháp. Amataṃ dado là ban bố chia sẻ cứu cánh bất tử. Mình thấy chuyện nghe pháp mà mình không quan tâm thì thôi, đâu có chết ai, những người không biết đạo họ vẫn sống vui vẻ. Nhưng đối với riêng tôi, tôi không hình dung được tôi sẽ ra sao nếu tôi không biết Phật pháp. Càng hiểu Phật pháp thì mới thấy ân đức của Đức Phật đối với chúng sanh lớn vô cùng, tôi nói một điều rất long trọng ở đây, càng học Phật pháp mình sẽ hiểu được nhiều hơn, biết được con đường mình sẽ đi, không gì kinh hoàng cho bằng một ngày nào đó mình nhìn lên trời cao thăm thẳm, mình không biết bên ngoài quả đất này nó còn cái gì nữa và đi về đâu, mình là ai, ở đâu tới và bây giờ mình phải làm gì. Tôi biết có nhiều người nói tôi, người ta sống có ai để ý đến những chuyện đó đâu, nhưng có người rất khổ tâm vì họ không biết những điều đó, họ là ai, sẽ đi về đâu, tại sao kẻ ăn không hết người lần không ra, tại sao trên đời có quá nhiều những bất công, tại sao và tại sao???. Mình chỉ cho pháp tức là cho họ câu trả lời. Pháp ở đâu ra? Từ lời dạy của Đức Phật. Đức Phật dạy rằng trên đời này có ba hạng người khó tìm:
1. Vị chánh đẳng giác
2. Người thuyết giảng pháp của vị Chánh đẳng giác
3. Người tri ân, báo ân.
Hạng thứ ba, tại sao người tri ân là khó tìm? Có chút tuổi đời, có chút va chạm mới biết là khó tìm thiệt. Mười năm qua, ví dụ tháng nào tôi cũng gởi thằng Tèo 500 đồng, đến năm thứ 11 tôi nói tôi không còn khả năng đó nữa. Theo tôi được biết, 95% trường hợp, khi người ta nghe nói như vậy người ta giận. Cứ tốt với người ta, chứ có lòng mong đợi hồi báo thì chỉ có thất vọng thôi, vì bản chất đời sống tàn bạo khốc liệt nó dễ ghét như vậy đó. Và người ta có một tỷ lý do để người ta quên ơn, lý do để nhớ ơn thì ít lắm. Nhiều người lạ lùng một chỗ là họ sợ sự thật, họ nghe mấy cái này họ chối phăng à, “làm gì có ai tệ như vậy”, không biết vì họ tốt hay vì họ quá thơ ngây. Tôi không phải là người gian hùng hay lăn lóc chợ đời gì, nhưng tới tuổi này tôi đã thấy được chuyện đó, tìm được người biết tri ân khó vô cùng. Bây giờ ba má quí vị nằm liệt giường, tôi nuôi mười lăm mười tám năm, cơm nước hầu hạ, dọn dẹp đồ dơ uế bất tịnh, quí vị sẽ nói “trời ơi sư giúp má con, giúp ba con…” chứ thử lỡ tôi lăn đùng ra tôi bịnh, quí vị vô lo cho tôi được một tháng quí vị gớm muốn chết luôn. Không phải tôi lo cho ba má quí vị mà tôi lo cho quí vị đó nhen, mổ xẻ trong bệnh viện, một mình một thân, nằm dưới sàn sát cái bô ống nhổ, tôi nằm tôi nuôi quí vị chín tháng trong đó, tanh tưởi, hôi thối biết bao nhiêu, lỡ tôi nói câu gì làm quí vị tự ái thì chín tháng đó có còn hay không, quí vị tự hỏi lòng mình, không cần phải trả lời cho tôi. Có câu chuyện nhỏ nhỏ lạc đề, Thượng Tọa Thích Hoàng Pháp đối với tôi còn hơn cả cha nữa, Thượng tọa có 5 người cháu, nhưng lạ một điều người ngủ chung một giường nhiều nhất với thượng tọa là tôi, từ năm 1977, đi đâu thượng tọa cũng cho tôi đi theo. Tôi đi ra nước ngoài 15 năm trời tôi chưa gọi thượng tọa một lần. Thời gian trước gọi khó, mình dựa vào chuyện khó mình không gọi, về sau này tôi nghĩ mình không có gì trong tay hết, gọi về đâu có chuyện gì để khoe, còn kể chuyện buồn thì buồn một mình không đủ hay sao còn kể người khác, cứ nghĩ vậy mà rồi thì từ sư cậu đến người quen tôi không kêu ai hết. Bao nhiêu ân tình ngày xưa từ từ phai lạt đi. Mình không phải là người đâm cha chém chú vong ân bội nghĩa mà mình còn như vậy, thử hỏi thiên hạ còn lại bao nhiêu. Kỳ vừa rồi về thăm sư trưởng bị bệnh, khi ra đi sư trưởng nói tranh thủ về thăm, biết đâu không còn dịp nữa. Tôi đi rồi lại còn muốn trở vô lần nữa, vì không biết còn dịp trở lại nữa hay không, nhưng vô lại rồi sao đây. Tống quân thiên lý chung nhất hữu biệt tiễn người ngàn dặm rồi cũng đến lúc chia tay, thôi thì đi, đi mà lòng không yên. May mà tôi biết Phật pháp mà tôi còn bạc lòng như vậy, huống chi không biết Phật pháp thì còn bạc thế nào nữa.
Hạng thứ nhì là người nói pháp, không nghĩa là sống cuộc đời cứ rao giảng cho người ta mà quan trọng là có giảng đúng ý kinh hay không, có giảng vì lòng từ hay không, có giảng vì mục đích danh lợi, hay vì lợi ích của người nghe hay không, đó mới gọi là người nói pháp. Có thấm thía, có tiêu hóa, có chia sẻ bằng tấm lòng của người nói pháp chứ không phải là nói thâu băng cassette rồi phát. Hạng người thuyết pháp này khó tìm vì chỉ có trong thời Phật Chánh đẳng giác ra đời mà thôi.
Hạng thứ nhất là Phật, Phật là người cái gì ngài cũng biết, ai ngài cũng thương, phước lành nào người cũng có. Đêm cuối cùng khi Đức Phật sắp tịch diệt, chư thiên về hầu Phật dày đặc trong 12 do tuần vuông, Đức Phật nói với ngài Ananda: “Này Ananda, rất đông các vị Thiên thần ở mười phương thế giới tụ hội để chiêm ngưỡng Như Lai. Này Ananda, cho đến mười hai do tuần xung quanh Kusinàrà, Upavattana, rừng Sàlà thuộc dòng họ Mallà, không có một chỗ nào, nhỏ cho đến đầu một sợi tóc có thể chích được mà không đầy những thiên thần có uy lực tụ họp”. Nghĩa là khi họ biết ngài sắp đi rồi họ chỉ nhớ một chuyện làm rung động người, đó là con người duy nhất hiểu rành mình hơn là mình, người duy nhất cho mình biết mình sẽ đi đâu về đâu, đó là vị Chánh đẳng giác…vậy mà đêm nay là đêm cuối cùng gặp vị ấy. Có ai mà thương người khác như là ngài, nhiều lắm họ thương mình, kế đến là thương người thân thích bà con, có ai mà thương chúng sinh như là một vị Bồ tát, người ta giết mình để đoạt mạng, mình vẫn không giận người ta, chỉ có Bồ tát mới làm được điều đó. Trong kinh nói có những kiếp trái đất chỉ có một vị Phật thôi, tiếng Pali là sàrakappa. Kiếp hai vị Phật là mandakappa. Kiếp 3 vị Phật là varakkappa. Kiếp 4 vị Phật là sàramandak. Kiếp 5 vị Phật là bhaddakappa (hiền kiếp). Kiếp không có Phật ra đời là sunna kappa[1] . Sàra là cốt lõi. Maṇḍa là tinh túy (essence) (Khác với manda: slow; dull; lazy; foolish). Vara là excellence. Trong sáu trường hợp này thì trường hợp không có Phật ra đời thì nhiều lắm. Sau trái đất này, một A-tăng-kỳ đại kiếp không có Phật nào ra đời, chỉ có Phật độc giác, các ngài ấy tự ngộ mà cũng không độ ai hết. Sau A-tăng-kỳ đó có trái đất đầu tiên, có hai vị Phật là Ma vương và vua Pasenadi. Có ba cơ hội để mình đi nhanh: (1) 5000 năm xá lợi gom lại thuyết pháp lần cuối. (2) Gặp Phật Di Lạc. (3) Chứng ngộ trong thời giáo pháp này.
[1] Xem thêm trong bài kinh Vườn Hoan Hỷ
(Diem Tuyet ghi chép từ room Vietheravada, sư Toại Khanh giảng)

Bahiya

KINH BAHIYA


Hôm nay mình học kinh Bahiya. Thưa với quí vị rằng chúng tôi không có thấy chú giải của kinh Bahiya này. Đó là một chuyện lạ, nhưng chúng ta có một giai thoại thế này:
Thời Phật có một người thương buôn tên là Bahiya đi thuyền rồi bị trôi dạt lên một vùng biển, trên người không còn áo quần gì hết. Vị này lấy vỏ cây để mặc. Những người ở VN chắc không hình dung, nhất là những người rời VN sớm thì không thể nào biết được áo quần bằng vỏ cây. Người dân ở đây gọi ông ta là Daruciriya nghĩa là “người mặc áo bằng vỏ cây”. Gọi đầy đủ là Bahiya Daruciriya. Quí vị nào trong room này chuộng chữ nghĩa văn thơ, tôi sẽ cho quí vị một từ rất đẹp:
Bahiya = bahika, có nghĩa là người phương ngoại.
Không biết ở đây có ai biết quyển “Sen nở trời phương ngoại” của HT Thích Nhất Hạnh? Người phương ngoại là người ở bên ngoài phố xá phồn tạp, người sống ở giữa mây ngàn hạc nội, không dính líu nhân gian phiền phức, chữ này mang ý nghĩa tích cực. Còn có nghĩa xấu hơn là “người cõi trên” theo cách gọi dân gian. Bahiya là tên ngẫu nhiên tình cờ cha mẹ đặt thôi, nhưng có ý nghĩa đẹp gợi ý cho quí vị, biết đâu một ngày nào đó sẽ có nickname trong room hoặc facebook tên là Bahiya,
Những người dân ở đây từng thấy những vị tu sĩ không mặc quần áo gì hết, hoặc mặc quần áo bằng da thú, bằng tóc người bện lại, cũng có bằng vỏ cây, nay thấy ông này mặc áo quần bằng vỏ cây nên nghĩ ông là một người tu hành chân chính. Họ cung kính gọi ông là bậc thánh.
Về phần Bahiya, đang đi buôn vốn liếng của nã mất sạch, trôi dạt đến xứ này, được người ta cơm dưng nước rót và suy tôn bằng thánh, nên rất chi là thích.
Trong kinh nói có một vị thọ thần, vốn là bạn thân của Bahiya kiếp trước, biết ông này vốn là người trí tuệ. Vị thọ thần này cũng là một Phật tử có biết đức Phật, nên tìm cách gặp gỡ Bahiya và nói: - Người ta nói ông là thánh, nhưng ông không phải là thánh. Nếu ông muốn làm thánh thiệt, tôi chỉ cho ông một cách. Ở Sàvatthi có một bậc đại thánh. Nếu ông không phải là phường giá áo túi cơm gạt người để sống thì nên tìm đến vị đó để làm thánh thứ thiệt.
Do tiền duyên, Bahiya nghe vậy thì rất xúc động. Kiểu như ở trong room này mình đang sống đời cha chú mà nghe người ta nhắc vậy mình đâu có thèm, thà thánh dỏm nhưng mà sướng còn hơn bỏ chỗ êm ấm này đi tới chỗ khác làm thánh thiệt không biết có làm được không mà trước mắt không được sung sướng. Thế nhưng Bahiya thì không, ông tỉnh ngộ. Ông tìm đến vùng biển Sàvatthi tìm đức Phật. Nhằm lúc đức Phật đang đi khất thực đang đi bát, ngài vừa nhìn thấy đã nhận biết Bahiya là ai, ngài biết Bahiya đã tu trăm ngàn đại kiếp, tương đương với ngài A Nan, ngài Ca Diếp, lúc lạc bước đường trần nên phải chịu tả tơi.
Bahiya đến quì xuống trước đức Phật và thưa: - Con nghe nói ngài là thánh, và biết cách dạy cho người khác thành thánh. Xin ngài dạy cho con biết điều gì đó để con có thể trở thành thánh như ngài. Đức Phật đáp: -Ta đang giờ khất thực, ta không thể thuyết pháp cho ai, đây không phải là lúc để nói chuyện.
Cũng do tiền duyên, Bahiya cứ năn nỉ, lần thứ nhất, lần thứ nhì lần thứ ba. Đức Phật nói: - Thôi được, ta đang đi khất thực, ta không thể nói nhiều, ta chỉ nói cho ngươi nghe một ít thôi.
Có hai dị bản, dị bản thứ nhất là bài kinh này.
Dị bản thứ hai, Đức Phật dạy rằng:
dittham ditthamattam bhavissati: thấy chỉ là thấy mà thôi
sutam sutamattam bhavissati: nghe chỉ là nghe mà thôi, không có người nghe, không có ai nghe
mutam mutamattam bhavissati: ngửi, nếm, đụng, chỉ là ngửi, nếm. đụng, không có ai làm việc đó. Chữ muta ở đây chỉ chung cho cả ba giác quan, nếu dịch gọn là cảm nhận.
vinnatam vinnatamattam bhavissati: suy nghĩ chỉ là suy nghĩ, không có ai suy nghĩ cả.
Phần sau cũng chỉ là giải thích mấy câu này, sẽ giải thích trong bài học ngày mai khi bài kinh malunkyaputta sutta, bài kinh đó có nội dung giống hệt bài kinh Bahiya trong Tiểu Bộ. Thế nên người nào từng đọc bài kinh bên kia rồi đọc qua bên đây sẽ cảm giác ngờ ngợ bài kinh này giống bài kinh kia. Một điểm nữa là bài kinh malunkyaputtasutta này có nội dung giống hệt bài kinh Bahiya, mà kế bên đây là bài kinh Bahiya lại có nội dung không giống như vậy. Điều này rất dễ ngờ rằng có nhầm lẫn nào đó trong kỳ kiết tập hoặc trong việc thọ trì ghi nhớ của các vị thời xưa. Dĩ nhiên đây chỉ là tồn nghi (treo lại đó chưa giải quyết được), chúng ta cứ y theo bản tiếng Việt, vì trách nhiệm nên tôi chỉ cho biết như thế mà thôi, vì lẽ ra bài kinh malunkyaputtasutta mà sắp tới chúng ta sẽ học có nội dung y chang như một dị bản mà ở đây trong kinh Bahiya có nội dung như chúng ta đang thấy. Ở đây ngài Bahiya đến gặp đức Phật và xin ngài thuyết cho nghe một ít giáo pháp để hành trì. Đức Phật chỉ hỏi vị này mấy câu căn bản mà ta thường thấy ở các kinh đó là về: sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thọ về vô thường. Ngài hỏi vô thường buồn hay vui. Bahiya trả lời vạn sự vô thường thì là rất đáng buồn. Đức Phật dạy rằng: nếu đáng buồn như vậy thì mình có nên xem nó là mình hoặc của mình hay không. Có ai trên đời này dại khờ đến mức nhận một di sản buồn như “gia tài của mẹ để lại cho con một núi đầy mồ, gia tài của mẹ để lại cho con một lũ bội thề” [1]? Khi mình biết rõ 6 căn (6 giác quan), 6 cảnh (6 đối tượng của 6 giác quan), 6 thức (cái biết của 6 giác quan). 6 căn 6 cảnh 6 thức cộng lại là biết. Ví dụ như khi mình thấy hoa đẹp, lá đẹp vv… để hoàn thành cái thấy đó cần phải có 3 thứ: 1/ thần kinh thị giác, (mù là không được) 2/ Có cái để mình nhìn, 3/ Cái để nhìn cộng với thần kinh thị giác cộng với khả năng thấy của tâm; ở đây gọi là nhãn thức. Với căn cảnh và thức cộng lại khi đó mới hoàn tất việc “thấy”, thiếu 1 trong 3 là không được, và cái “thấy” này được gọi là nhãn xúc. Từ nhãn xúc dẫn đến nhãn thọ, rồi dẫn đến ái, (thích hay không). Đức Phật dạy: 6 căn, 6 cảnh, 6 thức là vô thường nên 6 xúc cũng vô thường vì đó là lâu đài xây trên cát, do vậy 6 thọ cũng là lâu đài trên cát. Nếu chúng ta là một hành giả hay là một người có giây phút tịnh tâm quán chiếu chúng ta sẽ thấy toàn bộ đời sống của mình chỉ là những lâu đài trên cát, là vì bản thân nỗi khổ niềm đau, thương, thích, ghét, sợ chỉ là những cảm giác, những cảm xúc, những tâm trạng rất là phù du, lúc có lúc không. Bản thân đối tượng làm cho mình buồn-vui- thương-thích- ghét -sợ đó cũng lúc này lúc khác cho dù nó là một ngọn núi hay đại dương. Ngay trong cái thấy đã vô thường, đối tượng thấy cũng vô thường, cảm xúc chúng ta có được khi thấy cũng vô thường. Hình ảnh, đối tượng, bối cảnh, tâm trạng tất thảy đều vô thường. Sáu căn sáu cảnh sáu thức sáu thọ đều vô thường. Khi ấy, đức Phật hỏi ngài Bahiya: Như Lai đã nói cạn lời như vậy rồi, vậy ông nghĩ sao, có đáng để nghĩ rằng “tôi và của tôi” không? Bahiya thưa không. Sau khi Đức Phật vắn tắt xong và ra đi, Bahiya ngồi lại bên đường và quán chiếu y như lời Phật dạy. Ông ngồi nghe lá rơi và biết rõ đây chỉ là âm thanh, chỉ có cái nghe, không có người nghe. Lát sau nắng rọi xuống, mồ hôi chảy lên trán nóng nực khó chịu, vị này biết chỉ có sự khó chịu chứ không có người khó chịu; chỉ có cái nóng chứ không có người chịu nóng. Với công lực thâm hậu của quá khứ đã tu một trăm ngàn đại kiếp, ngay trong một khoảnh khắc vị này thấy rõ một cách xuyên suốt, hoàn toàn không có cái gì gọi là Bahiya, và xung quanh đây mọi người cũng chỉ là một tổ hợp phù du của căn-cảnh-thức-xúc-thọ. Ngài đứng dậy, nghĩ rằng sẽ đi tìm kiếm một bộ y và bình bát để xuất gia, vì ngài biết rõ trong thân phận của một vị la hán nếu không xuất gia thì trong thời gian tối đa 7 ngày ngài sẽ chết. Ngài không có lòng sợ chết cũng không có lòng ghét sống, nhưng khi ngài lên đường đi tìm lá y thì bị một con bò húc thủng tim, tử nạn. Lát sau, đức Phật trên đường trở về, thấy vậy liền cho người đem xác về chùa làm lễ hỏa thiêu, trong điều kiện cho phép lượm đá sỏi kết lên làm tháp vì đây là di hài của một vị a la hán. Khi biết một vị a la hán viên tịch trong khuôn viên chùa Kỳ Viên là Đức Thế Tôn luôn dạy cho tỳ kheo cùng nhau lượm củi khô hỏa thiêu, đất đá đáp tháp. “Đất khô ta nặn tượng vàng cho nhau”[2]. Có người hỏi đức Phật, vì sao có một người đơn giản sáng ngồi lề đường chiều vô tháp vậy. Đức Phật nói: Vịnày đã tu 100 ngàn đại kiếp dưới thời Padumuttara. Cách đây 100 ngàn đại kiếp, vị này đi vào chùa nghe pháp thấy đức Phật vinh danh một vị tỷ kheo là đệ nhất tốc chứng, có nghĩa là chứng thánh trong thời gian nhanh kỷ lục. Vị này thích quá nên làm phước cúng dường nguyện đời sau cũng được vậy. Khi duyên thành quả mãn, vị này gặp Đức Thích Ca Mâu Ni nhưng sau khi đắc quả thì lại viên tịch trong một hoàn cảnh không đẹp dù đã là A la hán. Đức Thế Tôn nói lý do là cách đây nhiều đời có 5 cậu công tử vào một ngày lễ hội, đã hùn tiền nhau thuê một danh kỹ. Người kỹ nữ này lại là một tín đồ của thời trang rất khoái kim cương hột xoàn và đeo trang sức đầy người. Năm vị công tử này thấy nhiều trang sức quá nên bóp cổ cô kỹ nữ này chết. Cô này có lời nguyền thật nhanh: “Nếu còn có kiếp sau, mấy người có đi cùng trời cuối đất thì kẻ hèn này xin được theo hầu tới nơi tới chốn”. Sau lời nguyền đó, suốt nhiều đời nhiều kiếp, cô này đã xử tử 5 công tử này. Xui cho cô, năm cậu công tử đó là năm vị tu hành quá nhiều kiếp, cỡ 100 ngàn đại kiếp trở lên trong 5 cậu công tử thì có 4 cậu chứng thánh. Cô kỹ nữ năm xưa sanh làm Dạ xoa, theo dõi từng người một và giết từng người một. Quả xấu của Dạ xoa là giết nhầm 4 ông thánh , thấp nhất trong đó là A na hàm, một người vĩnh viễn lìa xa 5 hạ phần kiết sử: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục ái và sân. Còn Alahán là người dứt điểm 5 thượng phần kiết sử là sắc ái, vô sắc ái, ngã mạn, phóng dật và vô minh. Sau khi húc chết vị này, con bò trở lại bình thường.
Trong cuộc luân hồi, mỗi phàm phu nào cũng có mang theo hai cái thùng, một thùng thuốc nổ và một thùng diêm. Thùng thuốc nổ là quả xấu của mình trong quá khứ. Thùng diêm là phiền não của mình trong hiện tại. Khi thùng thuốc nổ nổ nhằm lúc quả xấu trổ thì thùng diêm được kích hoạt. Khi có quả lành thì đi đâu luôn gặp quới nhơn phù trợ.
Trở lại bài kinh nghe cả tháng nay, chỉ nghe hoài còn thấy nản, sao không thấy nản khi cưu mang nó một đời và muôn kiếp sinh tử? Có lần đức Thế Tôn đi khất thực ngang qua cánh đồng, nghe một anh nông dân nói: “Người sức vóc khỏe mạnh mà cứ đi ăn mày, ngày nào như ngày nấy cứ xin mãi”. Ngài nói: “Ta đi xin lần này lần chót, kiếp này là kiếp chót. Nếu ngươi tiếp tục tham sân si sẽ đi cày ruông dài dài kiếp này rồi kiếp khác”. Nói rồi ngài đọc bài kệ:
Kiếp này rồi kiếp khác.
Phàm phu đi tái sanh.
Kiếp này rồi kiếp khác.
Người thiện về thiên giới.
Kiếp này rồi kiếp khác.
Người ác bị sa đọa.
Kiếp này rồi kiếp khác.
Phàm phu mãi tái sinh.
Kiếp này rồi kiếp khác.
Cuộc đời là như vậy.
Ngài lặp tới lặp lui mười bốn lần chữ punappunan. Một khi đức Thế Tôn khai kim khẩu là có duyên sự cực kỳ lớn, vì sao ngài lại đi ngang cánh đồng đó và gặp người nông dân đó. Sau khi nghe Thế Tôn, người nông dân quì xuống: "Như là một người bị nhốt trong bóng tối nhìn thấy ánh sáng, như người bị té được đỡ đứng dậy, con đã hiểu và xin trọn đời qui ngưỡng Đức Thế Tôn. Xin ngài nhận phần cơm của con."
Đức Thế Tôn nói: Chính vì ta nói chuyện với ngươi mà có một bữa ăn như thế này, chư Phật không bao giờ thọ dụng bữa ăn có từ lời nói. Hãy đem đến chỗ nào không có côn trùng thì đổ xuống.





--
Diem Tuyet 
ghi trong FB  13. 1. 2016

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Vo De

Vo de

Lau qua khong gap nguoi,
Long ta buon vang vuong..
Nho ve nhung dem truong,
Khong quen giong chat thuong
Mai nay ta gap lai,
Du con gian, co thuong?


PV
16.12.2013

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

Nho cai Nick



Nho cai Nick

Hom kia con thay Nick em,
Hai hom khong thay buon sao la buon!
Nho ve cai Nick de thuong,
Dem khuya suong lanh con vuong bong hinh.

Cuoi thang 11.2013
Thu 2013

PV

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

chim en ve japan



Con chim en lai bay, mua dong lanh gia.
Troi khach san mot minh ben coc nho.
Xu Phu tang leo len nhin Phu si? ..
Tieng nhac nhon nho om nguoi con gai tre.

Tham hoi va chuc lanh ngay thu 7 den co nhan

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

Linsmaier

Yeu cau cua ba Linsmaier:

1. Thu ngay 30.10.2013


CHAM DUT



1. Nhung nguyen nhan cham dut mot moi tinh online:

1. Khi doi phuong da co quan he tinh yeu moi.
2. Khi tinh yeu qua khu bi be tac.
3. Khi tuoi tac chenh lech nhau qua xa
4. Khi tu tuong va tanh tinh khong hop nhau.
5. Khi doi phuong khong chan thuc.
6. Khi doi phuong dau diem nhung thong tin co ban.
7. Khi doi phuong khong tha thiet mot cuoc gap go.
8. Khi doi phuong thuong to ve tho o voi tinh cam cua ban.

2. Lam gi, sau khi da ket thuc:

0. Quan trong nhat la huong tam den tinh yeu moi. Mot doi phuong moi.
1. Khong nen huong tam ve tinh yeu cu nua.
2. Ngung su quan tam den doi phuong
3. Khong de doi phuong tiep xuc va gay su kho chiu va nguoc lai.